Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch vụ sửa nhà. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch vụ sửa nhà. Hiển thị tất cả bài đăng

Sữa chữa nhà

Sữa chữa nhà

Sửa nhà,cong ty sua nha,sua chua nha tron goi,sua chua nha


Lựa chọn giải pháp sửa chữa nhà hoặc gia cường: Giải pháp sửa chữa hoặc gia cường cần được lựa chọn trên cơ sở cơ chế xuống cấp đã được phân tích sáng tỏ.Giải pháp sửa chữa hoặc gia cường đề ra phải đạt được yêu cầu là khôi phục được bằng hoặc cao hơn công năng ban đầu của kết cấu và ngăn ngừa việc tiếp tục hình thành cơ chế xuống cấp sau khi sửa chữa.

Sữa chữa nhà
Sữa chữa nhà



Sửa chữa nhà, gia cố công trình sử dụng vật liệu FRP có nhiều ưu điểm như thi công đơn giản, nhanh chóng,giữ nguyên hình dạng kết cấu cũ, thẩm mỹ cao đặc biệt là khả năng chống thấm và ăn mòn cao/Sửa nhà,cong ty sua nha,sua chua nha tron goi,sua chua nha

Sữa chữa nhà,dịch vụ sửa nhà,cty sửa nhà,báo giá sửa nhà
Sữa chữa nhà


Từ mỗi loại hình hư hỏng nhận biết được,chủ công trình và người thiết kết cần có chương trình cụ thể cho công tác bảo trì,sửa chữa nhà,bao gồm từ khâu kiểm tra,đánh giá mức độ hư hỏng đến việc sửa chữa,gia cường,nâng cấp hoặc phá dỡ công trình.


Sửa chữa nhà,sửa nhà hcm


Xác định tốc độ xuống cấp

Sửa nhà,cong ty sua nha,sua chua nha tron goi,sua chua nha

sua chua nha


(1) Nguyên tắc chung: Yếu tố chính làm suy thoái bê tông cốt thép trong môi trường biển là hiện tượng rỉ cốt thép dẫn tới nứt, vỡ lớp bê tông bảo vệ, làm mất khả năng bám dính giữa bê tông và cốt thép, giảm tiết diện cốt thép và có thể dẫn tới sụp đổ kết cấu. 


Do đó xác định tốc độ suy thoái kết cấu cũng như dự báo thời gian sử dụng còn lại của kết cấu chủ yếu được dựa trên quá trình ăn mòn cốt thép. Quá trình ăn mòn cốt thép được phân thành hai giai đoạn chính như trình bày ở bảng 3.5.2. ở giai đoạn tích tụ điều kiện gây rỉ, thông số quyết định tốc độ suy thoái là tốc độ thẩm thấu ion Clorua vào trong bê tông. 

Mốc giới hạn là nồng độ ion Clorrua tích tụ trên bề mặt cốt thép đạt giá trị giới hạn bắt đầu gây rỉ cốt thép. ở giai đoạn phát triển rỉ cốt thép, yếu tố quyết định tới tốc độ suy thoái là tốc độ rỉ cốt thép theo thời gian. Mốc giới hạn là tiết diện cốt thép tối thiểu khi đưa vào tính toán trạng thái giới hạn cực hạn về mặt chịu lực của kết cấu theo TCVN 5574: 1991 thông qua các chỉ số công năng cụ thể về moment, lực dọc trục, lực cắt...



Quan trắc lún và nghiêng của công trình

(1) Yêu cầu chung

Quan trắc lún cho phép xác định độ lún tuyệt đối và tốc độ phát triển của độ lún của công trình theo thời gian. Tốc độ lún của công trình được theo dõi bằng cách định kỳ đo độ lún của các mốc gắn trên công trình so với mốc chuẩn (được coi là không lún).

Công tác quan trắc có thể được thực hiện bằng phương pháp thuỷ chuẩn hình học, thuỷ chuẩn lượng giác, thuỷ chuẩn thuỷ tĩnh hoặc bằng cách chụp ảnh. Trong điều kiện thông thường nên áp dụng phương pháp của TCXD 271:2002.

(2) Xác định cấp đo lún

Quan trắc lún của công trình cần được thực hiện lâu dài với độ chính xác cao, vì vậy nên lựa chọn độ chính xác cấp I hoặc cấp II khi đo lún.

(3) Chu kỳ đo

Khoảng thời gian giữa 2 lần tiến hành quan trắc lún phụ thuộc vào tốc độ lún và cấp đo lún. Khi tốc độ lún nhỏ thì khoảng thời gian giữa 2 lần đo phải đủ lớn mới có thể xác định chính xác độ lún. Ngược lại nếu tốc độ lún lớn thì có thể đo với chu kỳ dày hơn. Thông thường khoảng thời gian giữa hai lần đo bằng 1-3 tháng.

(4) Bố trí mốc đo lún

Để thực hiện quan trắc cần cần lắp đặt hệ mốc chuẩn và các mốc đo lún.

Mốc chuẩn được bố trí bên ngoài công trình và phải đảm bảo không bị lún trong suốt thời gian thực hiện quan trắc. Trong điều kiện cụ thể của từng công trình, cần đặt 2-3 mốc chuẩn. Nên sử dụng mốc chuẩn loại A cho các công trình quan trọng hoặc loại B cho các công trình thông thường (theo phân loại mốc chuẩn của TCXD 271:2002).

Các mốc đo lún được gắn trên công trình tại các vị trí phù hợp để có thể đánh giá được tình trạng lún của công trình nói chung và xác định được biến dạng của kết cấu. Vị trí gắn mốc đo lún trên một số loại kết cấu thường gặp như sau:

(a) Kết cấu tường chịu lực:Tại các vị trí giao nhau giữa tường ngang và tường dọc;

(b) Kết cấu khung: Tại các chân cột;

(c) Công trình dạng tháp (silo, ống khói, ...): Bố trí tối thiểu 4 mốc phân bố đều trên chu vi của kết cấu;



Khoảng cách giữa các mốc đo lún không nên lớn hơn 15 m. Mốc có thể được bố trí dày hơn quanh khe lún và tại các vị trí có biến động của điều kiện đất nền, thay đổi tải trọng cũng như tại các vị trí quan sát thấy sự thay đổi của tốc độ lún.

Sửa nhà,cong ty sua nha,sua chua nha tron goi,sua chua nha


Dịch vụ sửa nhà,cty sửa nhà

Dịch vụ sửa nhà,cty sửa nhà

Dịch vụ sửa nhà,cty sửa nhà,sửa nhà giá rẻ,cong ty sua nha,báo giá sửa nhà,sửa nhà hcm,sửa nhà,bao gia sua nha


Dịch vụ sửa nhà,cty sửa nhà,sửa nhà giá rẻ,cong ty sua nha,báo giá sửa nhà,sửa nhà hcm,sửa nhà,bao gia sua nha.
BÁO GIÁ SỬA NHÀ-SỬA CHỮA NHÀ



Dịch vụ sửa nhà,cty sửa nhà,sửa nhà giá rẻ,cong ty sua nha

Vật liệu dùng để pha trộn vữa (chất kết dính, cốt liệu, phụ gia, nước) phải bảo đảm yêu cầu theo các tiêu chuẩn Nhà nưóc hiện hành.

Hốn hợp vữa là hỗn hợp được chọn một cách hợp lý, trộn đều của chất kết dính vô cơ, cốt liệu nhỏ với nước. Trong trường hợp cần thiết, có thêm các phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ.Vữa là hỗn hợp ở trạng thái đã đông cứng.


Hỗn hợp vữa mới trộn phải bảo đảm độ lưu động yêu cầu và khả nảng giữ nước sao cho khi xây, vữa chắc đặc.



Đối với vữa đã bị phân tầng đo vận chuyển, trước khi dùng phải trộn lại tại chỏ thi công. Không cho phép dùng vữa đã đông cứng, vữa bị khô.


Khi pha trộn vữa, phải bảo đảm cân hoặc đong các thành phần cốt liệu chính xác. Khi cho thêm các chất phụ gia, cần theo chi dẫn của thí nghiệm và quy định của thiết kế.


Chỗ trộn và trữ vữa trong quá trình sử dụng cần được chc mưa, nắng. Khi thi công trong mùa hè, mùa khô, mùa gió khổ nóng, cần bảo đảm độ ẩm cho vữa bằng cách: nhúng nước gạch đá trước khi xây, tưới ướt hề mặt tiếp xúc với vữa, đùng vữa có độ lưu động cao.


Nên trộn hỗn hợp vữa bằng máy, trường hợp không có điều kiện hoặc khối lượng sử đụng vữa ít, có thể trộn hỗn hợp vữa bằng tay.


Khi trộn hỗn hợp vữa bằng máy phải theo trình tự: cho nước vào máy trộn, sau đó đỡ cốt liệu, chất kết dính, phụ gia vào máy. Khi vữa cổ phụ gia hóa dẻo hữu cơ, trước hết trộn phụ gia với nước khoảng từ 30 đến 45 giây, sau đó mới cho các vật liệu khác vào máy. Chỉ ngừng trộn sau khi hỗn hợp vữa đồng nhất, nhưng thời gian trộn không nhỏ hơn 2 phút.

Báo giá sửa nhà,sửa nhà hcm,sửa nhà,bao gia sua nha


Khi trộn hỗn hợp vữa bằng tay, sãn trộn cần bằng phẳng, không thấm nước và kín nước đồng thời phải rộng để công nhân thao tác dễ dàng. Dụng cụ trộn hổn hợp vữa phải sạch, không được dính bám đất và vữa cũ. Cách trộn hỗn hợp vữa bằng tay như sau: trộn đều xi măng vói cát rồi đánh thành hốc (để trũng ở giữa). Hòa hồ vôi với nước thành nước vôi. Đổ nước vôi (hoặc nước nếu trộn vữa xi măng, cát) vào hốc và trộn đều cho tới khi nhận được hỗn hợp đồng màu. Nếu có sử dụng phụ gia hóa dẻo thì phải hòa phụ gia vào nước trước. Trộn xong đánh gọn vào thành từng đống.


Chú thích: Không tùy tiện đổ thêm nước vào để trộn cho dễ. Chú ý đến lượng ngậm nước của cát để điều chỉnh lượng nước cho phù hợp.


 Tuổi của bê tông để xác định cấp độ bền chịu nén và chịu kéo dọc trục được chỉ định trong thiết kế là căn cứ vào thời gian thực tế từ lúc thi công kết cấu đến khi nó bắt đầu chịu tải trọng thiết kế, vào phương pháp thi công, vào điều kiện đóng rắn của bê tông. Khi thiếu những số liệu trên, lấy tuổi của bê tông là 28 ngày.

 Đối với kết cấu bê tông cốt thép, không cho phép:

- Sử dụng bê tông nặng và bê tông hạt nhỏ có cấp độ bền chịu nén nhỏ hơn B7,5;

- Sử dụng bê tông nhẹ có cấp độ bền chịu nén nhỏ hơn B3,5 đối với kết cấu một lớp và B2,5 đối với kết cấu hai lớp.

Nên sử dụng bê tông có cấp độ bền chịu nén thỏa mãn điều kiện sau:

- Đối với cấu kiện bê tông cốt thép làm từ bê tông nặng và bê tông nhẹ khi tính toán chịu tải trọng lặp: không nhỏ hơn B15;

- Đối với cấu kiện bê tông cốt thép chịu nén dạng thanh làm từ bê tông nặng, bê tông hạt nhỏ và bê tông nhẹ: không nhỏ hơn B15;

- Đối với cấu kiện bê tông cốt thép chịu nén dạng thanh chịu tải trọng lớn (ví dụ: cột chịu tải trọng cầu trục, cột các tầng dưới của nhà nhiều tầng): không nhỏ hơn B25.



 Đối với các cấu kiện tự ứng lực làm từ bê tông nặng, bê tông hạt nhỏ, bê tông nhẹ, có bố trí cốt thép căng, cấp độ bền của bê tông tùy theo loại và nhóm cốt thép căng, đường kính cốt thép căng và các thiết bị neo, lấy không nhỏ hơn các giá trị cho trong